Giảng viên đại học phải duy trì vốn hiểu biết về nội dung giảng dạy ở
tầm mức cao và bảo đảm nội dung khoá học luôn được cập nhật, chính xác,
tiêu biểu, và phù hợp với vị trí của khoá học xét trong toàn bộ chương
trình học của sinh viên.
Để đạt được năng lực về nội dung giảng dạy, giảng viên phải chủ động
cập nhật các lĩnh vực nội dung liên quan đến những khoá học mà mình
giảng dạy; nắm được nội dung của các khoá học mà sinh viên phải học
trước khi theo học khoá này cũng như các khoá học sử dụng khoá học hiện
tại như là yêu cầu tiên quyết; và phải cung cấp một lượng phù hợp những
kiến thức tiêu biểu về các chủ đề và quan điểm quan trọng.
Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc này bao gồm
trường hợp giảng viên dạy những môn học mà mình không có đủ nền tảng
kiến thức, diễn giải sai các bằng chứng nghiên cứu để ủng hộ một lý
thuyết hay một chính sách mà mình tán thành, hay giảng viên chỉ dạy
những chủ đề mà mình quan tâm trong khi người đó có trách nhiệm dạy một
khoá học làm nền tảng cho những khoá học khác.
Năng lực sư phạm
Giảng viên có năng lực sư phạm là người nắm được các phương pháp hay
chiến lược giảng dạy khác nhau khi truyền đạt những mục tiêu của khoá
học cho sinh viên, và lựa chọn những phương pháp giảng dạy giúp sinh
viên đạt được những mục tiêu của khoá học một cách hiệu quả.
Để duy trì năng lực sư phạm, giảng viên phải tích cực cập nhật các
chiến lược giảng dạy nhằm giúp sinh viên học các kiến thức và kỹ năng
phù hợp và tạo ra các cơ hội giáo dục bình đẳng cho các nhóm sinh viên
khác nhau. Điều này đòi hỏi giảng viên phải đọc nhiều tài liệu giáo dục
tổng quan hay chuyên ngành, tham dự hội thảo, hội nghị, và thử nghiệm
các phương pháp giảng dạy khác nhau trong một khoá học nhất định hay
với một nhóm sinh viên nhất định.
Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc này bao gồm việc
sử dụng phương pháp giảng dạy hoặc đánh giá không phù hợp với các mục
tiêu đã nêu của khoá học (ví dụ, đề thi chỉ bao gồm những câu hỏi đánh
giá khả năng ghi nhớ dữ kiện trong khi mục tiêu chính của khoá học là
dạy các kỹ năng giải quyết vấn đề), và không tạo đủ cơ hội cho sinh
viên thực hành hay học những kỹ năng nêu trong mục tiêu của khoá học và
sẽ được kiểm tra trong kỳ thi cuối khoá.
Xử lý các chủ đề nhạy cảm
 |
Các chủ đề có thể khiến sinh viên cảm thấy khó chịu hoặc nhạy cảm phải được xử lý một cách cởi mở, trung thực, và tích cực.
Nguyên tắc này còn có nghĩa là giảng viên cần nêu rõ cách nhìn nhận của
mình về vấn đề và so sánh quan điểm đó với những cách tiếp cận hay cách
lý giải khác, từ đó giúp sinh viên hiểu tính phức tạp của vấn đề và
những khó khăn trong việc đạt tới một kết luận “khách quan” duy nhất.
Cuối cùng, để tạo một môi trường cởi mở và an toàn cho thảo luận trong
lớp, giảng viên mời tất cả các sinh viên nêu quan điểm của mình về vấn
đề này, nêu ra các quy định nền tảng để thảo luận, tôn trọng các sinh
viên thậm chí cả khi cần phải bày tỏ ý kiến bất đồng, và khuyến khích
các sinh viên tôn trọng nhau.
Một ví dụ về chủ đề nhạy cảm là trường hợp một bộ phim có chiếu các
cảnh lạm dụng trẻ em trong một lớp tâm lý học phát triển mà không báo
trước. Nếu một bộ phim như vậy có giá trị sư phạm, thì sự bực bội và
khó chịu của sinh viên có thể được giảm đến mức tối thiểu nếu giảng
viên nói trước với sinh viên về nội dung của bộ phim, giải thích tại
sao bộ phim được đưa vào chương trình học, và tạo cơ hội cho sinh viên
trao đổi cảm nghĩ của mình về bộ phim đó.
Sự phát triển của sinh viên
Trách nhiệm bao trùm của giảng viên là góp phần vào sự phát
triển trí tuệ của sinh viên, ít nhất là trong lĩnh vực chuyên môn của
mình, và tránh những việc như lợi dụng và phân biệt đối xử làm ảnh
hưởng đến sự phát triển của sinh viên.
Theo nguyên tắc này, trách nhiệm cơ bản nhất của giảng viên là thiết kế
việc giảng dạy làm sao để thúc đẩy việc học và khuyến khích khả năng tự
quyết và tư duy độc lập ở sinh viên, đối xử với sinh viên với sự tôn
trọng và đề cao phẩm giá, tránh các hành động làm ảnh hưởng đến sự phát
triển của sinh viên. Việc thiếu trách nhiệm đối với sự phát triển của
sinh viên thể hiện trong trường hợp giảng viên lên lớp mà không chuẩn
bị đầy đủ, không thiết kế được cách giảng dạy hiệu quả, buộc sinh viên
phải chấp nhận một giá trị hay một quan điểm nào đó, hoặc không thảo
luận về các cách diễn giải lý thuyết khác nhau (xem thêm Nguyên tắc 1,
2, và 3).
Các ví dụ ít rõ ràng hơn về việc thiếu trách nhiệm đối với sự phát
triển của sinh viên có thể gồm những trường hợp giảng viên làm ngơ đối
với sự khác biệt về quyền hạn giữa họ với sinh viên và xử sự theo kiểu
lợi dụng hay hạ thấp giá trị của sinh viên. Những hành vi này bao gồm
phân biệt đối xử theo giới tính hay sắc tộc; nhận xét mỉa mai về sinh
viên; nhận mình là tác giả chính hay tác giả duy nhất của một ấn phẩm
báo cáo kết quả nghiên cứu do sinh viên nêu ra, thiết kế, và thực hiện;
không thừa nhận những điểm vay mượn về mặt học thuật hay trí tuệ từ
sinh viên; và giao cho sinh viên các công trình nghiên cứu phục vụ cho
những nhu cầu của giảng viên mà không liên quan đến những mục tiêu giáo
dục của khoá học.
Trong một số trường hợp, trách nhiệm của giảng viên trong việc đóng góp
vào sự phát triển của sinh viên có thể mâu thuẫn với trách nhiệm của
giảng viên đối với các tổ chức khác như nhà trường, ngành học, hay xã
hội nói chung. Ví dụ, điều này có thể xảy ra khi một sinh viên kém yêu
cầu viết thư giới thiệu để theo học ở cấp cao hơn, hay khi một sinh
viên có khiếm khuyết về khả năng học tập đề nghị xin được giúp đỡ mà
việc này lại đòi hỏi phải điều chỉnh những tiêu chuẩn cho điểm hay điều
kiện tốt nghiệp thông thường. Giảng viên lúc đó phải cân nhắc tất cả
những trách nhiệm mâu thuẫn nhau, có thể tham khảo ý kiến các cá nhân
khác để đưa ra một quyết định hợp lý.
Xử lý mối quan hệ với sinh viên
Để tránh xung đột lợi ích, giảng viên tránh có những mối quan hệ kép
(dual-role relationships) với sinh viên vốn có thể ảnh hưởng đến sự
phát triển của sinh viên hoặc dẫn tới việc giảng viên thật sự thiên vị
hay bị cho là thiên vị sinh viên.
Nguyên tắc này có nghĩa là trách nhiệm của giảng viên là giữ những mối
quan hệ của mình với sinh viên tập trung vào các mục đích sư phạm và
yêu cầu về mặt học thuật.
Ví dụ rõ ràng nhất về một mối quan hệ kép có nhiều khả năng ảnh hưởng
đến tính khách quan của giảng viên và/hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển
của sinh viên là bất kỳ hình thức quan hệ tình cảm hay quan hệ riêng tư
mật thiết nào với một người đang là sinh viên của mình. Các mối quan hệ
kép có thể gây rắc rối khác bao gồm: chấp nhận vai trò giảng dạy (hay
chấm điểm) cho một người trong gia đình gần gũi, bạn thân, khách hàng,
bệnh nhân, hay đối tác trong công việc; thân mật thái quá đối với sinh
viên hay nhóm sinh viên bên ngoài lớp học; cho sinh viên mượn tiền hay
vay tiền từ sinh viên; tặng quà hay nhận quà; và đưa vào khoá học yêu
cầu sinh viên tham gia vào một phong trào chính trị mà giảng viên này
ủng hộ. Ngay cả khi giảng viên tin rằng mình giữ được sự công tâm trong
những tình huống như trên, việc các sinh viên khác cho rằng có sự thiên
vị cũng đã tai hại về mặt giáo dục giống như sự thiên vị hoặc thiếu
công tâm thực sự. Nếu giảng viên thật sự có mối quan hệ kép với sinh
viên, ngay cả khi đã cố gắng không để điều đó xảy ra, thì giảng viên đó
phải có trách nhiệm thông báo với người giám sát càng sớm càng tốt để
sắp xếp người khác hướng dẫn hoặc đánh giá kết quả học tập cho sinh
viên này.
Mặc dù có những lợi ích rõ ràng về mặt sư phạm trong việc thiết lập
những mối liên hệ tốt với sinh viên và tiếp xúc với sinh viên cả trong
và ngoài lớp học, nhưng có những nguy cơ nghiêm trọng về việc lợi dụng,
hạ thấp tiêu chuẩn học thuật, và gây nguy hại tới sự phát triển của
sinh viên. Giảng viên có trách nhiệm ngăn không cho những nguy cơ này
trở thành những xung đột lợi ích thực sự hoặc khiến người khác nghĩ như
vậy.
Bảo mật
Điểm số, phiếu đánh vắng, và các trao đổi cá nhân được xem là những
thông tin mật, và chỉ được công bố nếu có sự đồng ý của sinh viên, hoặc
vì những mục đích học thuật chính đáng, hay nếu có các cơ sở hợp lý để
tin rằng việc công khai những thông tin đó sẽ có ích cho sinh viên hay
sẽ ngăn được mối nguy hại đối với người khác.
Nguyên tắc này nghĩa là sinh viên có quyền hưởng mức độ bảo mật trong
mối quan hệ với giảng viên ngang với mức bảo mật trong quan hệ luật
sư-khách hàng hay bác sĩ-bệnh nhân. Vi phạm nguyên tắc bảo mật trong
quan hệ giảng viên-sinh viên có thể làm sinh viên mất lòng tin ở giảng
viên và giảm động lực học tập. Bất kỳ quy định hay chích sách nào được
áp dụng liên quan đến việc bảo mật các thông tin của sinh viên đều phải
được công bố đầy đủ cho sinh viên từ đầu học kỳ.
Nếu không có cơ sở đầy đủ (ví dụ, được sinh viên đồng ý, có mục đích
chính đáng, hay có lợi cho sinh viên), thì bất kỳ việc nào sau đây cũng
đều bị coi là vi phạm nguyên tắc bảo mật: cung cấp các tài liệu về kết
quả học tập của sinh viên cho một người có thể là người tuyển dụng lao
động, nghiên cứu viên, bàn bạc về điểm số hay các vấn đề học thuật của
sinh viên với một giảng viên khác; và sử dụng các thông tin trao đổi
riêng tư với sinh viên làm tài liệu giảng dạy hay nghiên cứu...
Tôn trọng đồng nghiệp
Giảng viên đại học tôn trọng phẩm giá của đồng nghiệp mình và làm việc
trong sự cộng tác với đồng nghiệp để thúc đẩy sự phát triển của sinh
viên.
Nguyên tắc này có nghĩa rằng trong những tương tác giữa đồng nghiệp với
nhau liên quan đến việc giảng dạy, mối quan tâm bao trùm là sự phát
triển của sinh viên. Nếu có thể thì những bất đồng giữa đồng nghiệp với
nhau liên quan đến việc giảng dạy nên được giải quyết riêng và không để
ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh viên. Nếu giảng viên nghi ngờ đồng
nghiệp của mình không đủ năng lực hay vi phạm đạo đức giảng dạy thì
người này có trách nhiệm tìm hiểu vấn đề này một cách thấu đáo và tham
khảo ý kiến riêng với đồng nghiệp đó trước khi có bất cứ hành động nào
khác.
Một biểu hiện cụ thể của việc không tôn trọng đồng nghiệp là khi trong
lớp học, giảng viên đưa ra những nhận xét không có lý do xác đáng nhằm
hạ thấp năng lực của một giảng viên khác, hoặc giáo sư A nói với sinh
viên rằng các thông tin do giáo sư B cung cấp vào năm trước là không có
ích gì và sẽ bị thay bởi thông tin của giáo sư A hiện đang dạy khoá học
đó…
Đánh giá sinh viên phù hợp
Xét tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên
trong giảng dạy đại học cũng như trong cuộc sống và sự nghiệp của sinh
viên, các giảng viên có trách nhiệm thực hiện các bước thích hợp để bảo
đảm việc đánh giá sinh viên là đúng đắn, cởi mở, công bằng, và phù hợp
với các mục tiêu của khoá học.
Nguyên tắc này có nghĩa là giảng viên ý thức được về những ưu khuyết
điểm của các phương pháp đánh giá khác nhau và dựa vào đó để lựa chọn
những cách đánh giá cho điểm sinh viên phù hợp với các mục tiêu của
khoá học, càng chính xác và càng đáng tin cậy càng tốt.
Thực hiện nguyên tắc này, cách thức đánh giá và các tiêu chuẩn cho điểm
phải được thông tin rõ ràng đến sinh viên khi bắt đầu khoá học, và
không được làm khác đi so với những điều đã thông báo, trừ những trường
hợp đặc biệt. Những bài thi, bài luận, và bài tập của sinh viên được
cho điểm cẩn thận và công bằng thông qua một hệ thống chấm điểm hợp lý
mà sinh viên có thể hiểu được. Giảng viên cung cấp cho sinh viên nhận
xét chính xác và kịp thời về việc học của sinh viên một cách thường
xuyên trong suốt khóa học, kèm theo giải thích về cách cho điểm và
những gợi ý mang tính xây dựng về việc làm thế nào để sinh viên có thể
học tốt hơn. Giảng viên cần giữ sự công tâm và khách quan khi viết thư
giới thiệu sinh viên.
Tôn trọng nhà trường
Vì những lợi ích đối với sự phát triển của sinh viên, giảng viên đại
học ý thức và tôn trọng các mục tiêu, chính sách, và tiêu chuẩn giáo
dục của cơ sở nơi mình giảng dạy.
Nguyên tắc này có nghĩa giảng viên chia sẻ trách nhiệm tập thể, cùng
làm việc vì lợi ích của nhà trường nói chung, đề cao những mục tiêu và
tiêu chuẩn giáo dục của nhà trường, và tuân thủ những chính sách và quy
định của trường liên quan đến việc giáo dục sinh viên.
Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện nguyên tắc tôn trọng nhà
trường bao gồm việc tham gia quá mức vào các công việc bên ngoài trường
đại học mà gây xung đột với những trách nhiệm giảng dạy đại học; và
không nhận thức được hoặc không tuân thủ những quy định của nhà trường
về việc cung cấp đề cương khoá học, về sắp xếp lịch thi, hay về các
hành vi học thuật sai trái.
Tô Diệu Lan dịch